Đề xuất chế độ tiền thưởng cho cán bộ, công chức, viên chức từ ngày 1-7

Về chế độ tiền thưởng, Bộ Nội vụ đề xuất hoàn chỉnh nội dung liên quan đến theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

Tại dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Bộ Nội vụ đã đề xuất về chế độ tiền thưởng, áp dụng từ ngày 1-7-2026.

 - Ảnh 1.

Đề xuất chế độ tiền thưởng cho công chức, viên chức từ ngày 1-7

Theo dự thảo nghị định, thực hiện chế độ tiền thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với các cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hàng năm căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hàng quý, 6 tháng, xếp loại chất lượng hàng năm của từng người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.

Dự thảo nghị định nêu rõ, người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng Quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị; gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.

Quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị phải bao gồm những nội dung sau: Phạm vi và đối tượng áp dụng; Tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất và căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hàng quý, 6 tháng, xếp loại chất lượng hàng năm của người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị; Mức tiền thưởng cụ thể đối với từng trường hợp, không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người; Quy trình, thủ tục xét thưởng.

Bộ Nội vụ đề xuất quỹ tiền thưởng hàng năm nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.

Đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì hủy dự toán (đối với trường hợp dư dự toán) hoặc nộp ngân sách nhà nước (đối với trường hợp dư tạm ứng).

Góp ý về chế độ khen thưởng trên cơ sở thành tích đột xuất, Bộ Tài chính cho biết theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP năm 2024 của Chính phủ và dự thảo Nghị định thì việc thực hiện chế độ tiền thưởng được thực hiện trên 2 cơ sở: Thực hiện chế độ tiền thưởng trên cơ sở kết quả đánh giá xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm; Thực hiện chế độ tiền thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chế độ tiền thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất còn gặp nhiều khó khăn do chưa có tiêu chí đánh giá thành tích công tác đột xuất định lượng cụ thể và mức chi thưởng cho thành tích này; Không có văn bản hướng dẫn cụ thể của cấp có thẩm quyền để thống nhất trong triển khai thực hiện.

Theo Bộ Tài chính, qua tổng hợp và tham khảo, hiện nay các bộ, ngành đều chưa thực hiện được nội dung chi thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất.

Trên thực tế, việc khen thưởng các cá nhân có thành tích đột xuất đang thực hiện theo quy định tại Luật Thi đua - Khen thưởng (Giấy khen, Bằng khen của Bộ trưởng, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương Lao động các hạng,...) và mức tiền thưởng trên được quy định cụ thể tại Nghị định số 152/2025/NĐ-CP năm 2025 của Chính phủ Quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.

Vì vậy, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Nội vụ cân nhắc không quy định tiền thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất để tránh việc thưởng chồng chéo.

Cũng theo Bộ Tài chính, thực tiễn vừa qua, một số địa phương đề nghị hướng dẫn rõ hơn việc chi trả chế độ tiền thưởng như thời gian tính theo số tháng công tác hay theo năm công tác; trường hợp không công tác hết số tháng trong năm có được nhận tiền thưởng hay không; một số ngành có đặc thù như giáo viên công tác theo năm học. Do đó, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu bổ sung một khoản quy định về xác định đối tượng, cách tính tiền thưởng để thống nhất tổ chức thực hiện.

Cùng góp ý về vấn đề này, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết quỹ tiền thưởng được xác định trên cơ sở quỹ tiền lương của từng cơ quan, đơn vị nên khả năng chi thưởng giữa các cơ quan, đơn vị có thể khác nhau, dẫn đến cùng là cán bộ, công chức, viên chức nhưng mức thưởng không đồng đều.

Vì vậy, cơ quan này đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu, đánh giá thêm tác động của nghị định và xem xét có hướng dẫn nguyên tắc phân bổ quỹ thưởng để bảo đảm tương đối hài hòa, công bằng trong thực hiện chế độ tiền thưởng.

Các đối tượng được áp dụng quy định về chế độ tiền thưởng theo dự thảo nghị định:

- Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã

- Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

- Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 111 năm 2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126 năm 2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam

- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân

- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu

- Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân

- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố.